ẨM THỰC NAM BỘ LƯU DẤU QUÁ TRÌNH KHẨN HOANG MỞ CÕI PHƯƠNG NAM

Tóm tắt

Miền Tây Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long hay đất phương Nam ba tên gọi một vùng đất, nơi có con nước lớn tràn bờ, nước ròng phơi bãi; nơi có hệ thống sông ngòi và kênh rạch chằng chịt. Ngược dòng lịch sử, xưa kia vùng đất này là một vùng trũng thấp sình lầy và hoang vu, rậm rạp.Trãi qua mấy trăm năm hình thành từ thế kỷ thứ XVII cho đến ngày nay, với đôi bàn tay và khối óc của các thế hệ cha ông ngày trước đã biến vùng đấtnày trở thành vùng đất trù phú với một nền văn hóa rực rỡ được lưu giữ trọn vẹn cho đến tận bây giờ. Một trong những yếu tố văn hóa được lưu giữ đậm nét cho đến ngày nàyđó là văn hóa ẩm thực Nam bộ. Nét văn hóa của những ngày đầu “đi mở cõi” được thể hiện qua các món đặc sản, cách chọn nguyên liệu và cách chế biến, cách thưởng thức, cũng như sự giao thoa văn hóa ẩm thực của các nền văn  hóa tạo nên nét văn hóa chung nhất và đặc trưng riêng của vùng đất Nam bộ này.

Abstract

The Southwest, Mekong Delta or Southern region are three names of the same area where the high tide overflows and the ebb shows the ground in turns; where there are a lot of interlaced rivers and canals. In the past, this was  muddy, bushy and deserted lowland. Over several hundred years of formation from the seventeenth century up to now, thanks to the ancestors’ hands and minds, this land  has turned into a fertile one with brilliant culture preserved. One of the cultural factors carefully kept and significantly expressed is the Southern culinary culture. The culture of the early days of "reclamation" is reflected by the specialty, the ways of choosing raw materials and processing,  enjoying, as well as the cross-cultural cuisine that creates the most common and cultural aspect and characteristic of the Southern region.

g ngày đầu “đi mở cõi” được thể hiện qua các món đặc sản, cách chọn nguyên liệu và cách chế biến, cách thưởng thức, cũng như sự giao thoa văn hóa ẩm thực của các nền văn  hóa tạo nên nét văn hóa chung nhất và đặc trưng riêng của vùng đất Nam bộ này.

  1. GIỚI THIỆU

Nam bộ được hình thành trên nền đất phù sa mới nên đất đai rất màu mỡ. Vùng đất mà đâu đâu ta cũng thấy đất rộng sông dài, nơi nào cũng kinh rạch chằng chịt.... thế nên sản vật phong phú, hải sản dồi dào, nhiều cá, tôm, rắn, cua, rùa, ếch... Nam bộ xưa kia là vùng đất hoang vu, thiên nhiên khắc nghiệt với những dòng lịch sử còn ghi lại những hình ảnh: “muỗi kêu như sáo thổi, đĩa lềnh tựa bánh cánh” hay “ dưới sống sấu lội trên bờ cọp um”. Vào những ngày đầu “ mang gươm đi mở cõi”, sau khi con người từ nhiều nơi đặc biệt là những cư dân vùng đất Ngũ Quảng đã rời bỏ quê nhà mang theo hoài bảo và ý chí khẩn hoang để khai khẩn vùng đất này để sinh sống họ đã phải đương đầu với sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây phải chống chọi với thú dữ,muỗi mồng,rắn rết,cùng nhiều thứ bệnh tật hiểm ác. Nhưng với tinh thần lạc quan họ đã vượt qua khó khăn, thử thách để xây dựng nên vùng đất màu mỡ và trù phú ngày hôm nay. Họ tương trợ lẫn nhau cùng nhau vượt qua mọi khó khăn gian khổ và xây dựng nền văn hóa đặc sắc và nền ẩm thực phong phú.

II. NỘI DUNG

1. Những món đặc sản tiêu biểu của vùng đất Nam bộ

Trước tiến, chúng ta hãy cùng tìm hiểu một số món ẩm thực đặc sản Nam bộ, những món ăn theo thời gian đã trở thành “hồn quê” cho những người con tha hương, những món ăn bình dị, chân chất, mộc mạc như cái tình của người Nam bộ nhưng không kém phần hấp dẫn đối với những thực khách một lần được thưởng thức.

 

1.1. Cá lóc nướng trui

Cá lóc nướng trui là một món ăn dân dã chính hiệu, cá lúc mới vừa bắt được ta dùng một khúc cây cắm vào miệng cá đến phần đuôi cá lóc, sau đó được cắm dựng đứng giữa khu đất, cho quấn một ít rơm xung quanh và nướng là chúng ta đã có ngay món cá lóc nướng trui thơm ngon.

 Hình cá lóc nướng trui

 

Mùi thơm nức mũi, vị ngọt thanh của thịt cá khi đã nướng chín cùng da cá cháy giòn, ăn với ít rau sống, chấm với mắm me và nhắm một chung rượu sẽ càng tạo sự hấp dẫn cho món ăn.

Cá lóc nướng trui ra đời từ những buổi làm đồng của những người nông dân Nam bộ. Sau khi ngăn lạch, tát đìa, cá bắt lên chỉ cần rửa sạch, um rơm nướng chín là có thể cùng nhau thưởng thức ngay giữa cánh đồng lộng gió.

1.2. Cháo cá lóc và rau đắng

Đây là món ăn mang hương vị đặc trưng dân dã, không những ngon mà còn giúp giải nhiệt, giải cảm. Cá lóc thịt hiền, ngọt, còn rau đắng là vị thuốc giúp phòng và trị nhiều bệnh. Các lóc làm sạch, sau đó tiến hành luộc cá. Điểm đặc biệt của cháo cá lóc miền Tây là dùng nước luộc cá này để nấu cháo, từ đó vị ngọt của cá sẽ lan đều vào vào từng hạt cháo.

Cháo sau khi chín múc ra tô lớn ăn kèm với rau đắng, giá sống và ít gừng cắt sợi, ít hạt tiêu, nước mắm trong, thêm vài lát ớt. Nếu muốn trình bày cầu kỳ hơn, có thể bắt nồi cháo trên chiếc lò nhỏ và trụng rau đắng như hình thức ăn lẩu.

 

Hình cháo cá lóc 

Món cháo cá lóc rau đắng này có tác dụng giải cảm cho cơ thể rất tốt, bởi lẽ bản thân rau đắng cũng đã là một vị thuốc rất tốt cho việc giải độc cơ thể. Dù cách chế biến đơn giản, nguyên liệu dễ tìm nhưng món cháo cá lóc rau đắng đã đi sâu vào tiềm thức của khá nhiều người xa quê.

Đây là món ăn mang hương vị đặc trưng dân dã, không những ngon mà còn giúp giải nhiệt, giải cảm. Cá lóc thịt hiền, ngọt, còn rau đắng là vị thuốc giúp phòng và trị nhiều bệnh. Các lóc làm sạch, sau đó tiến hành luộc cá. Điểm đặc biệt của cháo cá lóc miền Tây là dùng nước luộc cá này để nấu cháo, từ đó vị ngọt của cá sẽ lan đều vào vào từng hạt cháo.

Cháo sau khi chín múc ra tô lớn ăn kèm với rau đắng, giá sống và ít gừng cắt sợi, ít hạt tiêu, nước mắm trong, thêm vài lát ớt. Nếu muốn trình bày cầu kỳ hơn, có thể bắt nồi cháo trên chiếc lò nhỏ và trụng rau đắng như hình thức ăn lẩu.

Chính xác góp mặt trong danh mục đặc sản miền Tây Nam bộ từ bao giờ không ai rõ, song theo một số đầu bếp cao niên ở miệt Mỹ Tho, Cai Lậy (Tiền Giang), món ăn này có lẽ đã xuất hiện trong bữa ăn gia đình và hàng quán từ cả trăm năm trước.

Không quá cầu kỳ trong chế biến nhưng muốn có tô cháo ngon khiến người ăn phải xuýt xoa thì không hề đơn giản. Gạo nấu cháo phải là loại dẻo vừa, vị ngọt và có hương thật thơm. Gạo nấu cháo không vo và nấu ngay như cháo trắng mà phải được rang trên chảo đến khi hạt gạo vàng đều và bốc mùi thơm.

Cá lóc chọn để nấu thường là con to để ít xương, tuy vậy thay vì mua loại cá lóc nuôi con to cho nhiều thịt, các đầu bếp kỹ tính ở Mỹ Tho thường chọn được cá lóc đồng. Loại cá này tuy nhỏ hơn nhưng thịt chắc và thơm. Nước nấu cháo tuyệt đối không được dùng loại nước máy có lẫn mùi clo. Để tô cháo thêm phần hấp dẫn, sau khi nêm nếm đủ gia vị, người nấu thường lấy hành tím cho vào, ngoài ra hành lá và ngò rí xắt nhuyễn cũng là hai thứ không thể thiếu. Cuối cùng là đĩa rau đắng đất, thứ rau đặc sản miền Nam đắng tê đầu lưỡi nhưng hậu ngọt vô cùng. Không phải loại rau đắng trồng công nghiệp có thân to lá to như cọng rau sam, rau đắng đất Mỹ Tho mọc theo các mô đất ở sau nhà có lá nhỏ thân nhỏ, vị đắng hơn loại rau đắng thường.

1.3. Canh chua cá linh bông điên điển:

Từ cái tên đã cho thấy được sự dân dã của món ăn này. Canh chua cá linh bông điên điển là một món dân dã, tiêu biểu và đặc trưng của vùng đồng bằng sông Cửu Long khi sử dụng hầu như những loại nguyên liệu đặc trưng nhất chỉ có tại vùng quê sông nước này. Nguyên liệu chính là cá linh và bông điên điểnlà một trong những sản vật đặc trưng của “mùa nước nổi” của vùng đất. Hai nguyên liệu này không chỉ mang đến vị ngọt thanh và hương thơm nức, mà còn tạo nên màu sắc hấp dẫn cho món lẩu.

 Cá Linh nấu bông điên điển

Lẩu cá linh bông điên điển

1.4. Lẩu mắm

Là do sự kết hợp giữa hai loại mắm đặc sản ở miền Tây là mắm cá linh và mắm cá sặc. Mắm cá sau quá trình nấu sôi, xương cá đã được lược bỏ đi và chỉ lấy phần nước dùng. Cùng với mắm là những nguyên liệu khác như thịt ba rọi, tôm, mực, cá được nấu cùng càng làm tăng thêm hương vị và độ thơm ngon. Ngoài ra, còn ăn kèm cùng các loại rau như rau muống, bông bí, bông so đũa, rau đắng, cây kèo nèo, bông súng… sẽ tạo nên một khẩu vị trưng của riêng vùng đất sông nước.

Lẩu mắm

1.5. Hủ tiếu Mỹ Tho

Thành phần chính là sợi hủ tiếu, nước dùng và nguyên liệu ăn kèm. Đặc điểm của sợi hủ tiếu Mỹ Tho là cọng nhỏ, khô, dai và giòn giòn thơm ngon, đươc tinh chế từ loại gạo đặc trưng của vùng đất Gò Cát (vùng ngoại ô của thành phố Mỹ Tho). Cách nấu nước dùng cũng rất độc đáo, ngoài vị ngọt của nước hầm xương, còn có cái mằn mặn của tôm khô, ngọt nhẹ của củ cải, tạo cảm giác dìu dịu nơi đầu lưỡi khi thưởng thức. Hủ tiếu dùng chung với các loại rau như hẹ, xà lách, giá và rắc thêm một ít hành phi và tiêu lên trên, như vậy là ta đã có tô hủ tiếu thơm ngon.

Nhìn qua hủ tiếu Mỹ Tho cũng giống với các loại hủ tiếu khác nhưng khi thưởng thức các bạn mới cảm nhận hết được cái riêng của món ăn này. Đây là mòn ăn kết hợp tinh túy của hai nền ẩm thực Việt – Hoa, là nét văn hóa tiêu biểu nhất của vùng đất này.

Hủ tiếu Mỹ Tho

1.6. Bún nước lèo

Là món ăn khá phổ biến của vùng miền Tây Nam Bộ và đặc biệt nồi tiếng với đồng bào dân tộc Khmer tại Sóc Trăng. Điểm nổi bật của món này đó là hai thứ không thể thiếu là ngải bún và mắm bò hóc. Ngải bún trước đây thường mọc hoang, sau được người ta trồng trong vườn nhà làm gia vị. Ngải bún có tác dụng khử mùi tanh của mắm. Mắm bò hóc được người Khmer làm từ các loại cá đồng trộn với muối và cơm nguội.

Bún Nước lèo

Cách nấu nước lèo từ mắm của các loại cá và đã được lược một cách kỹ càng để loại bỏ hết phần xương và giữ cho nồi nước lèo trong vắt và dậy mùi. Nước lèo nếu muốn có hương vị ngọt đậm đà hơn phải có thêm chút nước dừa tươi. Bún, thêm ít thịt heo quay, và bắp chuồi và đổ nước lèo vào. Mùi mắm, heo quay và bắp chuối trong mỗi tô bún hòa quyện vào nhau tạo nên khẩu vị đặc trưng của tô bún mà người thưởng thức không thể nhần lẫn vào đâu được.

1.7. Bánh Pía

Tên bánh xuất phát từchữ “pi-é”, âm Hán Việt “pía” theo cách đọc của người Triều Châu có nghĩa là bánh. Và đôi khi bánh pía còn được gọi là bánh bía, bánh lột da vì bánh có hình tròn dẹt, với nhiều lớp da mỏng được xếp vào nhau bao lấy phần nhân bên trong bánh (bột mì, đậu xanh hoặc khoai môn, mỡ heo, sầu riêng, lòng đỏ trứng muối).

Từ những khối bột dẻo mịn tạo thành vỏ bánh mỏng mềm ôm lấy hương vị ngọt ngào của nhân đậu xanh, mùi thơm của sầu riêng, béo ngon của mỡ heo và mằn mặn của trứng muối đã tạo nên chiếc bánh pía đặc thù của Sóc Trăng. Khi dùng bánh pía Sóc Trăng, người ăn sẽ không cảm thấy ngán vì bánh ngọt thanh, không gây gắt cổ, không quá béo, chính điều này đã làm nên tên tuổi cho bánh pía Sóc Trăng.

Bánh Pía

1.8.Chuột đồng nướng muối ớt

Các món chế biến từ thịt chuột đồng được xem là một trong những đặc sản nổi tiếng nhất của vùng đất miền Tây. Chuột đồng xuất hiện nhiều ở các đồng lúa khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Do thức ăn của chúng chủ yếu là lúa nên thịt của chuột đồng rất sạch, có vị béo ngọt, hơi giống thịt gà. Chuột đồng ở miền Tây có rất đa dạng các cách chế biến, trong đó nổi tiếng nhất là chuột đồng nướng muối ớt.

Chuột đồng nướng muối ớt

1.9.Bánh giá chợ Giồng

Không biết ra đời tự bao giờ, chỉ biết rằng miệt Chợ Giồng, Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang từ lâu đã rất nổi tiếng với món bánh giá chợ Giồng. Món bánh này được rất nhiều người ưa thích, nhất là khách du lịch. Bánh có một hương vị rất đặc trưng do được làm từ loại gạo dẻo thơm miền Tây. Nhân bánh mang cái vị ngọt bùi của tôm và giá. Bánh được ăn cùng với nướng mắm tỏi ớt là không gì tuyệt vời bằng.

Bánh giá

2. Cách thức chọn nguyên liệu chế biến

Vào những ngày đầu định cư tại vùng đất Nam bộ, những lưu dân người Việt đã biết tận dụng, khái thác những sản vật từ nhiên nhiên của vùng đất nhiều kênh rạch này.Do đặc điểm địa hình và sinh hoạt kinh tế, văn hóa Nam bộ đã định hình nền văn minh sông nước, ở đó nguồn lương thực chính là lúa, thực phẩm là cá và rau quả chủ yếu là các loại rau đồng. Từ sự phong phú, dồi dào ấy mà trải suốt quá trình khai hoang dựng nghiệp, món ăn, thức uống hàng ngày của người Nam bộ cho dù trong hoàn cảnh nào, thiếu thốn đạm bạc, hay đầy đủ, họ không thể không khám phá và sáng tạo nhiều phương thức nuôi trồng, đánh bắt để chế biến ra nhiều món ngon một cách có bài bản từ những đặc sản của địa phương.

Cá là nguổn nguyên liệu thân quen trong những món đặc sản, là nguồn sản vật có sẵn trong tự nhiên. Về nguyên liệu rau thì có: bông súng, rau muống, rau cần, rau nhúc, rau dừa, rau hẹ nước, rau má, rau đắng, rau om, bông điên điển, bông lục bình, cù nèo, rau mác… các món rau vườn có giá, hẹ, ngò, cà nâu (cà phổi), đậu rồng, khổ qua, bông so đũa, lá cách, lá nhàu, khế, chuối chát, đọt vừng, đọt cóc… Các món rau này kết hợp nhau bày trong bữa ăn mắm kho như cả một vườn hoa lá xanh tươi nhiều màu sắc, vừa đẹp mắt, vừa ngon miệng lại giàu chất bổ dưỡng.

Theo thời gian nguồn nguyên liệu ấy trở thành món khoái khẩu không thể thiếu trong bửa ăn hàng ngày của cư dân vùng đất này. Ngày nay dù cuộc sống thay đổi, sản vật được phong phú hơn nhưng vẫn không thể thay đổi thói quen và sở thích sử dụng nguyên liệu từ những món cá và các loại rau tự nhiên đặc trưng kể trên.

3. Cách thức chế biến

Vào thế kỷ thứ 17 vì mưu sinh, vì nghịch cảnh những cư dân vùng đất Ngũ Quảng phải rời bỏ về nhà để vào mở cõi phương Nam. Hành trang họ mang theo là đôi bàn tay và ý chí quyết tâm. Họ phải khẩn hoang, phải vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt để tìm miếng ăn. Chỉ tìm cái no bụng thôi đã là điều khó khăn chứ nói gì đến những món ăn cầu kỳ, xa xỉ của vùng đất kinh kỳ. Thế nên ẩm thực Nam bộ vào những ngày đầu có phần đơn giản và thực dụng.

Trên bước đường khẩn hoang di thực, có lẽ hai trong những yếu tố quan trọng để làm ra những món ăn Nam bộ là sự tình cờ khám phá và trãi qua một quá trình định hình. Ở vào thời kỳ miền Nam là vùng đất hoang sơ, tài nguyên thiên nhiên vô tận, nguồn thực phẩm dồi dào, nhưng những người Nam tiến còn nghèo khổ gần như không quan tâm đến việc tận hưởng miếng ăn ngon, nguồn lợi ấy là chỗ dựa vững chắc cho sự no lòng để người dân yên tâm khẩn hoang lập nghiệp. Nên thức ăn chế biến càng đơn giản, càng nhanh càng tốt, vội vàng bên ánh lửa trong căn chòi vừa cất vội, trên cánh đồng mới khai hoang, trên những xuồng ghe ngược xuôi theo dòng nước. Thức ăn có sẵn ở mọi lúc mọi nơi. Chính trong quá trình “ làm no” ấy đã tạo nên phong cách và nét đặc thù của văn hóa ẩm thực Nam bộ.

Chúng ta dễ dàng tìm đến và thưởng thức những món đặc sản bình dị như: cá lóc nướng trui, rắn nướng lèo, mắm kho, mắm sống... ở tất cả các địa phương của vùng đất này. Hầu như người dân Nam bộ đều thích mắm, mắm được xem là món ăn bình dân căn bản hàng ngày. Mắm là món ăn dự trữ được lâu, vào những ngày đánh bắt được nhiều người dân đề phòng cho những khi thắt ngặt, thiếu món thịt cá tươi thì họ chế biến thành món mắm để bảo quản được lâu hơn. Người miệt vườn có nhiều cách chế biến thức ăn từ mắm như ăn mắm sống, mắm chưng, mắm kho. Trong món mắm sống có các loại như: mắm thái, mắm ruột (hay mắm lòng), mắm chưng trứng, mắm dưa…, mỗi thứ có thêm các món phụ gia trộn vào hoặc kèm theo tỏi, ớt, chanh, dấm, đường, gừng, đu đủ rồi ăn cặp với thịt heo luộc, tôm luộc, cá nướng… Mắm chưng có loại chưng nguyên con như mắm lóc, trê; có loại bằm nhuyễn (thường là mắm sặc) rồi chưng chung với trứng vịt, thịt heo…

Khẩu vị của người Nam bộ cũng rất đặc biệt: gì ra nấy! Mặn thì phải mặn quéo lưỡi (như nước mắm phải nguyên chất và nhiều, chấm mới “dính”; kho quẹt phải kho cho có cát tức có đóng váng muối); ăn cay thì phải gừng già, cũng không thể thiếu ớt, mà ớt thì chọn loại ớt cay xé, hít hà (cắn trái ớt, nhai mà môi không giựt giựt, lỗ tai không nghe kêu “cái rắc”, hoặc chưa chảy nước mắt thì dường như chưa... đã!). Vì sao khẩu vị người Nam bộ lại “quyết liệt” như thế? Đó chẳng qua là dấu ấn sắc nét thời khai phá. Thuở ấy, con người ở đây một mặt phải ra sức khống chế thiên nhiên, thường xuyên đương đầu với nhiều loại thú dữ - nói chung là phải đối phó với vô vàn gian nan khổ khó, một mặt phải “tay làm hàm nhai”. Có được “ba hột” no lòng không ai không biết rằng “dẻo thơm một hột đắng cay muôn phần”, cho nên người Nam bộ không dám hoang phí làm rơi vãi hột cơm, hột gạo, mà đều xem đó như “hột ngọc”. Có cơm ăn thôi là đã mãn nguyện, dám đâu nghĩ tới chuyện kiểu cách, cầu kỳ, thịnh soạn!

Nay tuy Nam bộ đã qua rồi giai đoạn cực kỳ gian nan khốn khó, khẩu vị của họ cũng theo xu thế ăn sang mặc đẹp mà thay đổi: lạt hơn, ngọt hơn, nhưng những món ăn ghi đậm dấu ấn thời khẩn hoang vẫn hãy còn đó mà đại biểu là cá lóc nướng trui, rắn nướng lèo, mắm kho, mắm sống... Người Nam bộ chẳng những không mặc cảm mà còn tự hào, phát huy để nhắc nhớ cội nguồn, tri ân người mở cõi. Nếu những món ăn độc đáo ấy vẫn tồn tại, vẫn hiện diện trong bữa cơm gia đình, trong nhà hàng sang trọng và cả trong khẩu vị, cung cách thưởng thức cố hữu của người Nam bộ.

4. Cách thức thưởng thức ẩm thực

Người Nam bộ khi ăn không mời: người khẩn hoang xưa khi đi dọn rừng, phát ruộng xa chòi thường mang theo một bếp lò di động để trước mũi chiếc xuồng. Đến nơi làm, họ chọn một chỗ khô ráo rồi đặt lò và nhặt cành cây khô đốt lửa. Đầu tiên là để xua muỗi, sau đó là khi dọn rừng, phát ruộng, nếu gặp cua, vọp, ốc, rùa, rắn… thì bỏ vào lò nướng. Đến giữa buổi nghỉ trưa, họ vo gạo, nấu nồi cơm lên, còn thức ăn thì đã có sẵn. Bữa cơm được dọn ra, người ta ăn đến 5-7 chén cơm vì lao động cực nhọc, vì thức ăn là đặc sản nên ăn hết sức ngon lành. Chính vì bận bịu lao động giữa thiên nhiên hoang sơ như vậy mà đến bữa cơm, ai rảnh tay và đói trước thì ăn trước, không đợi cả gia đình quay quần bên nhau mới so đũa, bưng chén. Nên mời làm chi cho mệt, đói thì cứ ăn.

Trong bàn tiệc hay bữa cơm hàng ngày, người Nam bộ thích dùng chung chén rượu, chấm chung chén nước chấm do người xưa vào những ngày đầu khẩn hoang cuộc sống kinh tế có phần khó khăn, vật chất có phần thiếu thốn. Và như phần giới thiệu đã trình bày thiên nhiên đất rừng phương Nam trước kia vô cùng khắc nghiệt và hung tơn với các loài thú dữ như câu nói vẫn còn được lưu truyền “ dưới sống sấu lội trên bờ cọp um”, hiện nay còn nhiều địa danh vẫn còn mang chứng tích cho sự hung tợn này như cù lao Ông Hổ (ở Long Xuyên, An Giang), Rạch Gầm – Xoài Mút (ở Châu Thành, Tiền Giang). Từ đấy họ phải nương tựa, chia sẽ cùng nhau, cùng tìm kế mưu sinh ở vùng đất mới đầy khắc nghiệt. Việc dùng chung chén nước chấm cũng thể hiện tính cộng đồng, cố kết nhau là đức tính tốt đẹp hình thành ngay từ những ngày đầu của buổi dựng nghiệp.

5. Nơi thưởng thức ẩm thực

Với những bữa cơm thường ngày trong gia đình thì người Nam bộ tùy điều kiện không gian căn nhà rộng hay hẹp mà bố trí hợp lý: hoặc trên bàn, hoặc ngay trên sàn nhà. Nếu là bạn thân rủ nhau nhậu chơi thì có thể trải đệm dưới gốc cây trong sân vườn hay ngoài đồng, hay trên xuồng ghe tùy thích. Nhưng khi nhà có đám tiệc thì không xuề xòa mà bày biện cỗ bàn rất nghiêm chỉnh trong tinh thần quý trọng khách mời, tạo nên nét văn hóa rất riêng mà cũng rất chung, hài hòa giữa phong tục truyền thống với đặc điểm văn minh vùng sông nước.

Người Nam bộ thích “ nhậu lai rai” để giải khuây sau ngày lao động vất vả. Ở thôn quê, tiệc nhậu là chuyện bình thường giữa bạn thân với nhau, sau mùa gặt hái thành công, chăn nuôi có lợi. Người Nam bộ có thể nhậu ở bất cứ đâu ngoài sân, ngoài vườn, trên ghe….lấy khung cảnh thiên nhiên làm bối cảnh. Người Nam bộ bình dị, mộc mạc là thế, không cầu kỳ như chốn kinh kỳ xa hoa.

6. Ẩm thực Nam bộ là sự kết tinh và giao thoa văn hóa giữa các nhóm dân di cư

Lại tiếp tục nói về quá trình mở cõi, vào cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII, trên vùng đất Nam bộ này đã có nhiều dân tộc cùng cộng cư, sinh sống, như: Việt, Hoa, Khmer, Chăm. Vì đây là vùng đất mới, còn hoang vu, thú dữ tràn đầy và biết bao hiểm nguy khác đang đe dọa cuộc sống con người nên tất cả các cộng đồng dân tộc ở đây đã đoàn kết lại, cùng chung lưng đấu cật để chống lại thú dữ, thiên tai, khẩn hoang mở rộng vùng đất, xây cầu, dựng chợ, tạo lập xóm làng... làm cho diện mạo vùng đất này thay đổi rõ rệt. Trong quá trình đó, mặc dù mỗi dân tộc đã cố gắng giữ gìn và phát huy nét văn hóa đặc sắc của riêng mình, nhưng do quá trình cộng cư lâu dài nên văn hóa của các dân tộc có sự hòa hợp và giao thoa lẫn nhau. Sự giao lưu trong văn hóa ẩm thực là một điển hình. Sự giao lưu trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc ở Nam bộ được thể hiện ở hai phương diện: thứ nhất, dân tộc này ăn các món ăn của dân tộc kia; thứ hai, dân tộc này sử dụng các món ăn của dân tộc kia nhưng có chế biến lại cho phù hợp với khẩu vị của mình.

Và các món ăn đặc trưng đó đã trở thành phổ biến, được các dân tộc cùng cư ngụ trên một vùng đất sử dụng qua lại lẫn nhau. Các món như: canh chua, cá kho tộ, lẩu mắm... là những món ăn đặc trưng của người Việt; bún nước lèo, bún mắm, canh xiêm lo... là đặc trưng của người Khmer; người Hoa thì có các món: hủ tiếu, bánh pía, heo quay, vịt tiềm, vịt khìa, canh thuốc bắc, hột vịt muối... sự tiếp biến trong văn hóa ẩm thực của các dân tộc ở đây đã làm cho các món ăn ở vùng đất này không ngừng phong phú qua việc tiếp thu rồi chế biến lại, tạo ra hương vị khác.

Trãi qua quá trình cộng cư lâu dài giữa các dân tộc Việt, Hoa, Khmer, Chăm trên vùng đất Nam bộ này đã khiến mọi mặt văn hóa hòa hợp và giao lưu lẫn nhau. Mỗi dân tộc, đều lưu giữ một nền văn hóa riêng của mình, đồng thời cũng đóng góp vào nền văn hóa chung của một vùng đất làm cho nền văn hóa Nam bộ nói chung, văn hóa ẩm thực ở Nam bộ nói riêng có sự phong phú, đa dạng và nhiều màu sắc.

III. KẾT LUẬN

Ẩm thực không chỉ để thỏa mãn vật dục mà còn biểu hiện của trình độ văn hóa tinh thần của dân tộc. Nó không chỉ liên kết không gian, thời gian; truyền thống, hiện đại mà cả tâm linh, tư tưởng con người nữa. Ẩm thực Nam bộ tạo được sắc thái riêng, hương vị ngọt ngào riêng bởi hơi đất miệt vườn mênh mông, vị ngọt sông rạch ào ạt và cả những tháng ngày cơ hàn, gian truân của các thế hệ cha ông ta ngày trước. Ngày hôm nay, dù chất lượng của cuộc sống đã thay đổi, đã qua rồi cái thời ăn để no nhưng ẩm thực khẩn hoang Nam bộ vẫn tạo ra cả một trào lưu ẩm thực hướng về cội nguồn chốn quê, thưở xa xưa khẩn hoang. Những món ăn mộc mạc, “hương đồng cỏ nội” như cá lóc nướng trui, mắm kho, mắm sống, cá lóc hấp trái bầu, canh chua cá linh bông điên điển, canh chua cá lóc, hủ tiếu Mỹ Tho,bánh pía, bún nước lèo... vẫn lên ngôi, trở thành đặc sản; vẫn khuấy động thực khách. Dù thời gian có trôi qua bao lâu đi nữa thì hình ảnh những ngày đầu đi mở cõi vẫn mãi được lưu dấu trong ẩm thực Việt, trong tâm khảm người dân đất Việt. Người Nam bộ tự hào, phát huy để nhắc nhở thế hệ sau về cội nguồn, sự tri ân người mở cõi.

 

 

 

 

 

 

 

 

Chia sẻ:

ĐĂNG KÝ THEO DÕI

Copyright © DU LỊCH MỸ THO. All rights reserved. Design by NINA.VN
./templates/news_detail_tpl.php